Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Tía Tô Dại (Hyptis suaveolens) 1Ảnh minh hoạ Tía Tô Dại (Hyptis suaveolens) 2Ảnh minh hoạ Tía Tô Dại (Hyptis suaveolens) 3Ảnh minh hoạ Tía Tô Dại (Hyptis suaveolens) 4Ảnh minh hoạ Tía Tô Dại (Hyptis suaveolens) 5
Hyptis suaveolens — J.M.Garg, CC BY-SA (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Hoa môi Labiatae (Lamiaceae)

Tía Tô Dại

Hyptis suaveolens (L.) Poit.

  • é lớn tròng
  • tía tô giới ballote camphrée
Họ thực vật
Lamiaceae
Tên gọi khác
2
Bản gốc
Trang 715–716
Độ tin cậy OCR
88 / 100

Mô tả cây

Cỏ cao 1-1,5m. thân đứng phân nhánh, lúc mới hơi tròn, sau vuông, có nhiều lông.

Lá có cuống dài, phiến lá hình trứng, đầu tù, phía dưới hình tim, dài 2-6cm, rộng 1,5-2cm; mép có răng cưa, hai mặt đều phủ lông gân không nổi rõ.

Hoa mọc thành xim thưa hoa ở kẽ lá. Hoa nhỏ có cuống dài, đài hình chuông 10 gân, 5 răng. Tràng màu xanh hơi tím, thò ra ngoài đài, ống hình trụ, họng hơi phồng, phiến hai môi, môi dưới hình túi, 4 nhị, 2 trội.

Quả đóng tư dẹt, rốn rộng.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang dại ở khắp nơi trong nước ta, nhiều nhất ở miền trung và miền nam.

Thường ít thấy sử dụng. Một số nơi nhân dân hái toàn cây tươi, cắt bỏ rễ, phơi hay sấy khố dùng dần.

Thành phần hoá học

Trong cây tươi có 1-1,5% tinh dầu.

Theo phân tích của Nayak U.G. và Guha P. C. (Indian Chem. Soc. 1952, 29 (3), 183 - 186) trong tinh dầu có 31% l. sabinen, 12% d.limonen, 17% azulen sesquitecpen, 40% sesquitecpen và ancol sesquitecpenic.

Theo Acta ci venzolana 21, 161 (1970) C. A. 74, 12-57200 (1971) trong lá tươi cất theo hơi nước có chứa 0,048% tinh dầu, trong tinh dầu có 0,8% camphen, 5,1% γ tecpinen, 3,2% β pinen, 13,5% limonen, 42,3% fenchon, ngoài ra còn 5 tecpen chưa xác định, 11 sesquitecpen chưa xác định và 3 ditepen. (Miltizer berichte (1971, 25).

Công dụng và liều dùng

Cây lá tươi được một số vị lương y quanh thành phố Hồ Chí Minh sử dụng như vị bạc hà mọc hoang để chữa cảm cúm, sốt. Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm cùng với một số vị thuốc khác như hương nhu, kinh giới,...

Còn dùng lá tươi giãn nát đắp lên những nơi viêm tấy, sưng đỏ, lở loét.

Một số người dùng cho phụ nữa sau khi đẻ uống cho lợi sữa.