Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Kỳ Đà (Varanus salvator) 1Ảnh minh hoạ Kỳ Đà (Varanus salvator) 2Ảnh minh hoạ Kỳ Đà (Varanus salvator) 3Ảnh minh hoạ Kỳ Đà (Varanus salvator) 4Ảnh minh hoạ Kỳ Đà (Varanus salvator) 5
Varanus salvator — Yongkhun, CC0 / Public Domain (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Kỳ đà Varanidae

Kỳ Đà

Varanus salvator Laurenti

  • kỳ đà mốc
Họ thực vật
Chưa xác định
Tên gọi khác
1
Bản gốc
Trang 1038–1039
Độ tin cậy OCR
86 / 100

Mô tả con vật

Con Kỳ đà cho ta mật để làm thuốc.

Kỳ đà là một loại bò sát cỡ lớn có đuôi nhọn, lưỡi dài chẻ đôi. Con lớn nhất có thể dài tới 2,5m.

Chúng sống trong khe suối, bờ sông vùng trung du và miền núi, hoặc ẩn trong khe đá.

Kỳ đà bơi rất giỏi, ăn cá thân mềm, có người nói nó ăn cả rắn, rùa, thằn lằn, hoặc có khi cả chuột hay những loài gậm nhấm nhỏ hơn nó. Đôi khi nó bắt cả chim, gà và trứng chim, trứng gà.

Kỳ đà mỗi lần đẻ 15-20 trứng trong hốc cây hay hốc bờ sông. Trứng có thể ăn được và ngon như trứng rùa.

Kỳ đà bám vào đá rất chắc, dân lái bè thường dùng kỳ đà thay mỏ neo: Dùng chão dài buộc vào đầu kỳ đà. Nước lũ tháng 9 cũng không làm trôi bè đi được.

Phân bố, săn bắt và chế biến

Kỳ đà còn gọi là kỳ đà mốc sống hoang dại ở miền trung du và miền núi nước ta.

Thường người ta săn bắt hoang dại và tình cờ chứ ít khi chú tâm tìm bắt, chủ yếu ăn thịt, lấy da thuộc làm đồ dùng, còn mật thì đem phơi hay sấy khô làm thuốc.

Mật kỳ đà không đắng như nhiều thứ mật khác.

Thành phần hoá học

Trong mật kỳ đà cũng có một số axit và muối mật có cấu trúc sterolic.

Hoạt chất chưa rõ.

Công dụng và liều dùng

Theo kinh nghiệm trong y học cổ truyền dân tộc, mật kỳ đà được dùng chữa hen suyễn.

Mỗi cái mật kỳ đà được chia làm 5 đến 7 ngày uống. Có khi dùng nấu cháo để ăn.

Có người dùng chữa động kinh, cùng liều lượng.