Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Xạ Can (Belamcanda sinensis) 1Ảnh minh hoạ Xạ Can (Belamcanda sinensis) 2Ảnh minh hoạ Xạ Can (Belamcanda sinensis) 3Ảnh minh hoạ Xạ Can (Belamcanda sinensis) 4Ảnh minh hoạ Xạ Can (Belamcanda sinensis) 5
Belamcanda sinensis (ảnh cùng chi — minh hoạ tương đối) — GBIF contributor, CC0 / Public Domain (GBIF). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Lay ơn Iridaceae

Xạ Can

Belamcanda sinensis (L.) DC. (Pardanthus sinensis Ker., Ixia sinensis Murr.)

  • cây rẻ quạt
  • la cho (Lang-biang)
  • Iris tigré
Họ thực vật
Iridaceae
Tên gọi khác
3
Bản gốc
Trang 670–673
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Xạ can (Rhizoma Belamcandae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây rẻ quạt.

X ạ can là một loại cỏ sống dai, có thân rễ mọc bò. Thân có lá mọc thẳng đứng, có thể cao tới 1m.

Lá hình mác, hơi có bẹ, dài 20-40cm, rộng 15-20cm.

Cụm hoa dài 20-40cm, cuống gầy mềm. Hoa có cuống, bao hoa có 6 cánh màu vàng cam đỏ, điểm những đốm tía.

Quả nang hình trứng, có 3 van, dài 23-25mm, hạt xanh đen, hình cầu bóng, đường kính 5mm.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại các vùng savan, có khi được trồng làm cảnh.

Còn mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin.

Đào rễ và thân rễ vào mùa xuân hoặc mùa thu. Rửa sạch, cắt bỏ rễ con phơi hay sấy khô, khi dùng, ngâm nước gạo một hai ngày cho mềm; thái mỏng phơi hay sấy khô mà dùng dần.

Thành phần hoá học

Trong xạ can, người ta đã chiết ra được một chất glucozit gọi là belamcandin C 24 H 24 O 12 và tectoridin C 22 H 22 O 11.

Có tác giả còn tìm thấy một glucozit khác gọi là iridin C 24 H 28 O 4 và shekanin (xạ can tố) với hiệu suất 0,05%.

Belamcandin thủy phân sẽ cho glucoza và belamcangenin.

Tectoridin thủy phân sẽ cho glucoza và tectorigenin (có tinh thể hình phiến, độ chảy 227-230 o ).

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ: Xạ can có vị đắng, tính hàn, hơi độc; vào 2 kinh Can và Phế. Có tác dụng thanh hỏa, giải độc, tán huyết, tiêu đờm. Dùng chữa yết hầu sưng đau, đờm nghẽn ở cổ họng. Phàm người tỳ vị hư hàn không dùng được.

Xạ can còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân.

Chủ yếu làm thuốc chữa viêm cổ họng, vùng amiđan bị sưng mủ, đau cổ. Nói chung xạ can được coi là một vị thuốc quý chữa mọi bệnh về cổ họng.

Ngoài ra còn là một vị thuốc chữa sốt, đại tiểu tiện không thông, sưng vú tắc tia sữa, chữa kinh nguyệt đau đớn, thuốc lọc máu.

Có nơi còn dùng chữa rắn cắn: Nhai nuốt lấy nước, bã đắp lên nơi rắn cắn.

Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc. Hoặc giã củ tươi 10-20g với vài hạt muối. Vắt lấy nước, ngậm nuốt dần. Bã đắp ở ngoài.

Đơn thuốc có xạ can

1. Bài thuốc chữa tắc cổ họng: Xạ can 4g, hoàng cầm 2g, sinh cam thảo 2g, cát cánh 2g. Các vị tán nhỏ, dùng nước lã đun sôi để nguội mà chiêu thuốc. Bài thuốc này có tên là "đoạt mệnh tán" nghĩa là cướp lại tính mệnh đã nguy cấp.

2. Bài thuốc chữa các triệu chứng báng bụng to, nước óc ách, da đen xạm: Xạ can tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, hễ thấy lợi tiểu tiện thì thôi.