Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Tục Tuỳ Tử (Euphorbia lathyris) 1Ảnh minh hoạ Tục Tuỳ Tử (Euphorbia lathyris) 2Ảnh minh hoạ Tục Tuỳ Tử (Euphorbia lathyris) 3Ảnh minh hoạ Tục Tuỳ Tử (Euphorbia lathyris) 4Ảnh minh hoạ Tục Tuỳ Tử (Euphorbia lathyris) 5
Euphorbia lathyris — AnRo0002, CC0 / Public Domain (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Thầu dầu Euphorbiaceae

Tục Tuỳ Tử

Euphorbia lathyris L.

  • Thiên kim tử
Họ thực vật
Euphorbiaceae
Tên gọi khác
1
Bản gốc
Trang 493–494
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Cỏ sống hai năm, cao 1m thân rỗng.

Lá ở thân không cuống, không có lá kèm, hình giáo nhọn, mọc đối chéo chữ thập, chỉ có gân giữa nỏi lển rõ rệt thôi. Ở phần ngọn thân, lá ngắn hơn, gần hình tim. Ở kẽ lá có một tán chia thành 2-5 nhánh, mỗi nhánh kết thúc bởi một cụm hoa hình chén, nom giống một hoa đều lưỡng tính. Mỗi chén gồm có một tổng bao 5 lá bắc liền nhau gốc, rời và nhọn. Trong những chỗ nõm ngăn cách ngọn các lá bắc có 4 tuyến hình lưỡi liềm.

Từ miệng chén mọc ra vô số hoa đực và mỗi hoa một hoa cái ở giữa, mang bởi một cuống dài, thoạt tiên đứng, về sau cong xuống đất. Mỗi hoa đực giảm chỉ còn mỗi một nhị, chỉ ngắn mang bao phấn 2 ô mở bưỏi kẽ nứt dọc hướng ngoài. Chỉ nhị đặt trên một cái chân hình trụ, giới hạn bởi một chỗ thắt vòng quanh gọi là khớp. Hoa cái trần, giảm thành một nhụy cấu tạo bởi 3 lá noãn, bầu 3 ô mang 3 vòi gần rời nhau, chẻ đôi ở ngọn. Mỗi ô đựng một noãn có nút úp lên trên.

Quả nang có 3 mảnh vỏ, tách rời khỏi trụ quả và mở bởi một kẻ nứt ở giữa lưng. Hạt có mồng, vỏ ngoài màu nâu mờ, trong đựng cây mần và nội nhũ.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mới di thực vào nước ta khoảng 20 năm nay, nhưng mới chỉ được trồng lẻ tẻ tại một vài vườn thuốc địa phương.

Mùa hoa vào các tháng 4-7, mùa thu hái hạt dùng làm thuốc với tên tục tùy tử hay thiên kim tử vào các tháng 8-9.

Hạt hái về bỏ tạp chất, phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học

Trong hạt tùy tục tử có từ 40-46% dầu béo, chất gôm. Ngoài ra còn có euphorbiasteroit (độ chảy 199 o 5 là dẫn xuất của epoxylathyrol và những dẫn xuất của cumarin như aesculin, daphnetin, daphnin và biaesculetin (còn gọi là euphorbetin):

Công dụng và liều dùng

Tục tùy tử là một vị thuốc lợi tiểu, tẩy mạnh có tác dụng hành thủy, phá huyết.

Theo tài liệu cổ: Tục tùy tử có vị cay, tính ôn và có đọc vào hai kinh Can và Thận. Có tác dụng hành thủy, phá huyết, công tích, trục ẩm. Thường dùng chữa thủy thũng trướng mãn, huyết kết làm kinh nguyệt bế tắc, đàm ẩm trưng kết.

Thường dùng dưới dạng thuốc sương nghĩa là đã bỏ vỏ, lấy nhân ép vào giữa hai tờ giáy bản, ép bỏ dầu dùng bã. Ngày dùng 0,3 đến 0,6g bã này (sương).

Dùng ngoài đắp lên chỗ mẩn ngứa.

Chú thích: Ngoài công dụng làm thuốc, gần đây Menvin Canvin ở đại học Califocrnia đã phát hiện cây tục tùy tử và cây xương khô (Euphorbiatirucalli Lin) (xem vị này) đều chứa chất hydrocacbua giống dầu mỏ lại ít tạp chất hơn dầu mỏ vì không có chất lưu huỳnh gây khó khăn trong việc chế biến. Hai cây này có thể mọc khỏe trên những đất khô cắn, và cho năng xuất khoảng 15 tấn/ha. Cavin đã tính với diện tích sa mạcvùng Adizona, 2 cây này có thể thỏa mãn nhu cầu về xăng chạy xe hơi của xứ mình