Mô tả cây
Thổ hoàng liên là một loại cây nhỏ, cao 4050cm, thân mông, mềm nhấm. Lá kép 3 lần lông chim có bẹ, cuống lá chính đài 10-15em, cuống lá bậc 2 đài 5-7cm, cuống bậc 3 đài I3cm. Lá chét hình tròn hay bầu dục, mép khía
XÃ cư, Ni
Hình 137. Thổ hoàng hiên - ThalÌictrum foliolosum tai bèo, phiến lá dài, lá màu xanh lục, mật dướ nhạt hơn. Hoa nhỏ, cánh mỏng hơi phớt tím. Qu: nhỏ, hình hạt thóc, đầu hơi có mỏ. Thân rẻ to, th: đường kính 0,3-0,5cm có nhiều mấu, mấu cáct nhau chừng 0,5-lcm, bẻ ngang thấy rất nhiều xơ thịt màu vàng tươi, vàng trắng ( Hình 137).
B.
Phân bố, thu hái và chế biến
Mới phát hiện mọc nhiều ở vùng Tây Hắc nhiều nhất ở vùng Tủa Chùa. Đã đem trồng thí nghiện tại vườn thuốc Sapa (Lào Cai) và Tam Đảo (Vinl Phúc). Cây mọc tốt, ra hoa kết quả, rất để phá triển. Tuy nhiên cho đến năm 1967 chưa được đặt thành vấn đề trồng trên quy mô lớn. Chún; tôi cũng đã thí nghiệm trồng ở đồng bằng nhưng sang mùa nóng cây khô héo và chết.
Thu hoạch tốt nhất vào thu đông, nhưng vì mùa này cây lụi đi khó tìm, khí hậu lại rét quá ít ai đi tìm đào, cho nên thường khai thác vàc các tháng 6, 27, 8. Hái về rửa sạch đất cát, cắt b¿ rễ nhỏ, phơi hay sấy khô. Không phải chế biết gì đặc biệt. Ta nên nghiên cứu trồng phát triểr tại những vùng có khí hậu mát ở nước ta.
C. Mô tả vị thuốc
VỊ thuốc tiêu thụ trên thị trường ở nước ta là những mẩu thân rễ cát thành từng đoạn ngắn 2-4cm, đường kính 0,2-0,5cm. Mặt ngoài màu nâu sẫm, còn mang những đoạn thân ngắn, rỗng đường kính 0,3-0,5cm. Trên có những rễ nhẻ
màu vàng tráng dài hay sẹo của tế nhỏ. Thân rễ rắn cứng, mặt bẻ gẫy không phẳng, màu vàng tươi. Vị rất đắng.
Trên vì phẫu từ ngoài vào trong ta thấy:
I. Mộc thiêm gồm nhiều lớp tế bào hình chữ nhật;
2. Mô vỏ phần ngoài gồm những tế bào nhiều cạnh,. hoặc hình chữ nhật, kéo dài đường tiếp tuyến, những tế bào phía trong nhiều cạnh, to nhỏ không đều, xếp lung tung. Sát với libe là những đám cương mô.
3. Bó libe gỗ xếp rải rác thành từng đám trong mô ruột. Giữa bó libe gỗ là tia ruột khá rộng với những khuyến hình bầu dục, trông phảng phất như những ống bài tiết.
4. Trong mô ruột nơi gần gỏ thứ cấp có những mạch gỗ sơ cấp.
Thổ hoàng liên tán bột có màu vàng xám, tươi dưới tia ngoại tím. Soi kính hiển vi thấy có những đặc điểm: Mảnh mộc thiêm, mảnh mạch, tế bào cương mô đơn độc hoặc tập trung thành từng đám, mỗi đám gồm 2-4 tế bào, không có tính bội.
Lấy một ít bột, đặt lên tấm kính, thêm một giọt cồn 95°, một giọt axit nitric 30% đậy kính mỏng, chờ 5-10 phút, nhìn qua kính hiển vi sẽ thấy tính thể hình kim màu vàng tươi (becberin nitrat). Ta có thể lấy một ít bột, đặt trên kính và thêm ] giọt axit clohydric, chờ 15-20 phút sẽ thấy tỉnh thể becberin hình kim. Lấy chừng 30mg bột, cho vào ống nghiệm, nhỏ thêm độ 3ml nước cất, lác vài phút, lọc lấy 2ml, cho vào ống nghiệm khác, thêm Iml axit sunfuaric đặc 35%, nhỏ đần dần vào ống nghiệm †ml nước clo, nơi phân cách 2 dung dịch sẽ thấy một vòng màu đỏ.
D. Thành phản hóa học
Trong thổ hoàng liên có khoảng 3% becberin, 0,3% panmatin, 0,02% jatrorrhizin. Ngoài ra còn một ít thalictrin nhưng có khi không thấy chất 11ó63h).
E.
Công dụng và liều dùng
Nhân dân những vùng có cây vàng đằng mọc hoang đại thường dùng thân và rễ cây này để nhuộm màu vàng và dùng làm thuốc như vị hoàng đằng làm thuốc chữa sốt, sốt rét, ly, đau mắt. Dùng đưới hình thức thuốc bột hay thuốc viên.
Ngày uống 4-6g.
Có thể dùng làm nguyên liệu chiết becberin. Becberin clorua có thể dùng chữa sốt, sốt TẾ, ly, đau mát. Dùng trong: Ngày uống 0.02g đến 0,20g dưới dạng thuốc viên. Người ta còn dùng chữa bệnh vẻ gan, mật: Vàng da, ăn uống khó tiều.
Dùng ngoài: Chế thuốc đau mặt đưới dạng dung địch 0,5% đến 1%.
LIÊN Si A. Công dụng và liều dùng
Như vị hoàng liên. Ngày dùng từ 4 đến 6g chia làm 2 hoặc ba lần uống dưới dạng thuốc bột hay làm thành viên. Dạng thuốc sắc quá đáng khó uống. Dùng ngoài cũng để chữa đau mắt, mụn nhọt như hoàng liên bắc.
HOÀNG ĐĂN!




