Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Thiến Thảo (Rubia cordifolia) 1Ảnh minh hoạ Thiến Thảo (Rubia cordifolia) 2Ảnh minh hoạ Thiến Thảo (Rubia cordifolia) 3Ảnh minh hoạ Thiến Thảo (Rubia cordifolia) 4Ảnh minh hoạ Thiến Thảo (Rubia cordifolia) 5
Rubia cordifolia — Dinesh Valke from Thane, India, CC BY-SA (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Cà phê Rubiaceae

Thiến Thảo

Rubia cordifolia L.

  • tây thảo
  • mao sáng (mèo)
  • thiên căn
  • thiến căn
Họ thực vật
Rubiaceae
Tên gọi khác
4
Bản gốc
Trang 309–310
Độ tin cậy OCR
89 / 100

Mô tả cây

Cây mọc leo, sống lâu năm, rễ sống dai, thân vuông, có gai rất nhỏ, mọc quặp xuống. Lá mọc vòng 4 lá một (thực tế là lá mọc đối, với lá kém phát triển trông như 4 lá mọc vòng). Phiến lá hình bầu dục, đầu nhọn, dài 2-4cm, rộng 2,5-3cm, mép cũng có gai, gân lá hình cung. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, mọc thành xim dài 3-20cm ở đầu cành hay kẽ lá. Quả tròn, màu đen, khi chín, trong chứa 1-2 hạt hình cầu, đường kính 4mm, hõm ở giữa, lưng phình lên. Mùa hoa quả vào tháng 9-11.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại ở những vùng núi cao mát như Sapa, Nghĩa Lộ, Lai Châu. Người ta đào rễ vào Thu Đông, rửa sạch, thái mỏng, phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học

Trong rễ thiến thảo có chứa một chất glucozit, axit rutherythric, alizarin, một ít purpurin, rubiadin, glucoza.

Dưới tác dụng của men (erythrozin hay rubiaza) axit ruberythric sẽ tách ra thành glucoza và alinazin hay diozyanthraquinon; purpurin là một trioxyanthraquinon, chất glucozit sinh ra purpurin chưa tách được ra; rubiadin là một metylpurpuroxanthin. Chất purpuroxanthin trong Rubia sikkimensis là một đồng phân màu vàng của alizarin và là một dioxyanthraquinon.

Công dụng và liều dùng

Thiến thảo là một vị thuốc bổ, lợi tiểu, giúp ăn ngon cơm, điều kinh. Còn dùng chữa thổ huyết, tiểu tiện ra máu, chảy máu cam.

Ngày dùng 2-5g dưới dạng thuốc bột, có thể chế thành cao nước mềm dùng với liều 0,3-1g 1 ngày. Uống thuốc này, xương những người uống cũng có màu đỏ.

Chú thích: Tại những nước phương tây, người ta dùng rễ cây Rubia tinctorum L. với cùng một công dụng. Trước đây việc trồng cây này rất phát triển để làm thuốc nhuộm, có năm sản xuất lên tới 6 vạn tấn rễ. Nhưng sau khi tổng hợp được alizarin việc trồng cây này kém phát triển và từ đó việc dùng cây này làm thuốc cũng ít dần