Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Thành Ngạnh (Cratoxylon prunifolium) 1Ảnh minh hoạ Thành Ngạnh (Cratoxylon prunifolium) 2Ảnh minh hoạ Thành Ngạnh (Cratoxylon prunifolium) 3Ảnh minh hoạ Thành Ngạnh (Cratoxylon prunifolium) 4Ảnh minh hoạ Thành Ngạnh (Cratoxylon prunifolium) 5
Cratoxylon prunifolium (ảnh cùng chi — minh hoạ tương đối) — Botanical Research Institute of Texas, CC0 / Public Domain (GBIF). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Ban Hypericaceae

Thành Ngạnh

Cratoxylon prunifolium Dyer (Cratoxylon pruniflorum Kurtz)

  • cây đỏ ngọn (Vĩnh Phú)
  • lành ngạnh
  • ngành ngạnh
  • may tiến
  • ti u (Lai Châu)
Họ thực vật
Hypericaceae
Tên gọi khác
5
Bản gốc
Trang 423–424
Độ tin cậy OCR
89 / 100

Mô tả cây

Cây nhỏ có gai ở gốc (để tự nhiên cây có thể cao to, cho gỗ), cành non có lông tơ, dần dần trở nên nhẵn và có màu tro. Thân phía ngọn có màu đỏ do lông tơ màu đỏ (đỏ ngọn).

Lá hình mác dài 12-13cm, rộng 35-40mm, mọc đối, cuống ngắn 3-5mm, mặt gân chính đỏ đến 1/3, lá non gân lá và lá có màu đỏ đến quá nửa.

Hoa mọc trên những cành ngắn có lông màu tía.

Quả nang, dài 15mm, rộng 7-8mm.

Hạt hình trứng dài 6mm, rộng 3mm.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang tại các tỉnh miền Bắc, nhất là trên các đồi trọc của vùng trung du. Còn mọc ở Malaixia.

Thường người ta hái lá để pha nước uống và làm thốc. Dùng tươi hay ủ rồi phơi khô mới dùng.

Thành phần hoá học

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

Tác dụng dược lý

Nguyễn Liêm và cộng sự đã xác định dịch nước chiết của lá đỏ ngọn (1/16) có tác dụng chống oxy hoá mạnh, hoạt tính chống oxy hoá (HTCO) đạt 69% so đối chứng với P<0,001. Nếu so sánh với một vài vị thuốc khác, ta sẽ thấy lá thành ngạnh đứng đầu, sau đến dịch chiết cồn 1/32 bụt mọc 69%, dịch chiết nước lá chè tươi 1/8 với HTCO 68,5%, dịch chiết cồn vỏ xoan trà 1/80 với HTCO 64,5%, sau đến dịch chiết cồn đậu đen (1/1) với HTCO 57,1%, tất cả đều so đối chứng với P<0,001.

Công dụng và liều dùng

Chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc giúp sự tiêu hóa, ăn ngon cơm, hằng ngày hoặc khi yếu đau, sau khi đẻ.

Ngày uống chừng 15-30g lá khô dưới hình thức thuốc sắc hay thuốc pha như pha trà. Có khi phối hợp với lá vối nấu nước uống cho tiêu cơm.