Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Ruối (Streblus asper) 1Ảnh minh hoạ Ruối (Streblus asper) 2Ảnh minh hoạ Ruối (Streblus asper) 3Ảnh minh hoạ Ruối (Streblus asper) 4Ảnh minh hoạ Ruối (Streblus asper) 5
Streblus asper — AlleinStein, CC BY-SA (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Dâu tằm Moraceae

Ruối

Streblus asper Lour.

  • Duối
  • snai (Campuchia)
  • som po (Lào)
  • ta ko (Lào)
  • re mo (Lào)
Họ thực vật
Moraceae
Tên gọi khác
5
Bản gốc
Trang 591–592
Độ tin cậy OCR
89 / 100

Mô tả cây

Cây có thể cao tới 4-8m, cành mang hoa gày.

Lá hình trứng, dài 3-7 cm, rộng 12- 35mm, mép có răng cưa, cứng, nháp, không có lông.

Hoa đực cái khác gốc, hoa đực họp thành đầu có cuống, đính phía dưới những cành ngắn, hoa cái mọc đơn độc trên một cuống.

Quả thịt, màu vàng nhạt, to bằng hạt tiêu, hơi nổi lên giữa đài.

Phân bố, thu hái và chế biến

Ruối là một cây mọc rất phổ biến và được trồng ở khắp các tỉnh trong nước ta để làm hàng rào do có nhiều cành chằng chịt với nhau. Còn mọc ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Philipin.

Người ta dùng lá thân, rễ tươi và khô, thu hái gần như quanh năm.

Nhựa ruối cũng được dùng.

Thành phần hoá học

Trong nhựa mủ ruối có nhựa (Resin) và một ít cao su. Trong nhựa mủ đã đông đặc, tỷ lệ nhựa tới 76% và cao su là 23%.

Các chất khác chưa biết.

Công dụng và liều dùng

Ruối còn gọi là một vị thuốc dùng trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân.

Nhân dân thường dùng nhựa ruối dán lên hai bên thái dương chữa nhức đầu. Nhựa mủ của ruối có tác dụng làm đông sữa.

Cành và rễ thái mỏng sắc uống được dùng làm thuốc thông tiểu chữa bụng trướng. Vỏ ruối ngậm chữa sâu răng, đau họng.

Nhân dân Campuchia còn dùng rễ ruối phối hợp với nhiều vị thuốc khác chữa ho, chữa lao phổi. Ấn Độ dùng vỏ ruối sắc uống chữa sốt, đi ỉa lỏng, lỵ. Có thể dùng dưới dạng sấy vỏ khô, tán nhỏ mà uống.