Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Phật Thủ (Citrus medica) 1Ảnh minh hoạ Phật Thủ (Citrus medica) 2Ảnh minh hoạ Phật Thủ (Citrus medica) 3
Citrus medica — BlackDot, CC0 / Public Domain (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Cam Rutaceae

Phật Thủ

Citrus medica L. var. sarcodactylus Sw. (Citrus medica L. var. digitata Riss.)

  • phật thủ phiến
  • phật thủ cam
Họ thực vật
Rutaceae
Tên gọi khác
2
Bản gốc
Trang 765–766
Độ tin cậy OCR
89 / 100

Mô tả cây

Ta dùng quả phơi khô (Fructus Citri sarcodactyli) của cây phật thủ.

Cây nhỏ xanh tốt quanh năm, lá mọc so le, hình trứng, mép có răng cưa nhỏ, gai ngắn mọc ở phía dưới lá.

Vào đầu mùa hạ ra hoa màu trắng; quả chín vào mùa đông, vỏ ngoài màu vàng nâu, trên một số những múi chạy dài dọc quả phía dưới tách ra trông như ngón tay cho nên có tên phật thủ (tay phật, thủ là tay).

Phân bố, thu hái và chế biến

Phật thủ được trồng tại nhiều nơi trong nước ta, thường để lấy quả ăn, làm mứt hay làm thuốc.

Còn thấy trồng ở Trung Quốc (Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang, Vân Nam, Quý Châu).

Hái quả về thái dọc thành từng miếng mỏng phơi khô. Rất dễ mốc.

Thành phần hoá học

Trong phật thủ có tinh dầu và một chất flavonoit gọi là hesperidin C 25 H 21 O 15.

Vỏ quả chứa tinh dầu.

Trong quả chứa limentin, xitropten C 11 H 10 O 4 0,007%, ngoài ra còn diosmin C 34 H 44 O 15 (Dược học tạp chí, 1959, 79, 540).

Công dụng và liều dùng

Phật thủ là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân.

Theo tài liệu cổ: Phật thủ vị cay, đắng và chua, tính ôn; vào 2 kinh Phế và Tỳ. Tác dụng của nó là lý khí, cầm nôn mửa, mạnh tỳ, hóa đờm, giúp tiêu hóa, chữa ho. Dùng trong những trường hợp bụng đầy đau, biếng ăn, nôn mửa, ho.

Ngày dùng 3 đến 6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Trong sách cổ nói "phàm âm hư không dùng được".