Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Mâm Xôi (Rubus alceaefolius) 1Ảnh minh hoạ Mâm Xôi (Rubus alceaefolius) 2Ảnh minh hoạ Mâm Xôi (Rubus alceaefolius) 3Ảnh minh hoạ Mâm Xôi (Rubus alceaefolius) 4Ảnh minh hoạ Mâm Xôi (Rubus alceaefolius) 5
Rubus alceaefolius — Naturalis Biodiversity Center, CC0 / Public Domain (GBIF). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Hoa hồng Rosaceae

Mâm Xôi

Rubus alceaefolius Poir. (Rubus fimbriiferus Focke)

  • đùm đũm
Họ thực vật
Rosaceae
Tên gọi khác
1
Bản gốc
Trang 410–411
Độ tin cậy OCR
89 / 100

Mô tả cây

Cây nhỡ, thân leo. Thân, cành, cuống lá và cuống hoa đều có gai nhỏ.

Lá đơn, có cuống dài, phiến lá dài, hình tim, đường kính 5-15cm, chia 5 thùy theo hình chân vịt, trên mặt có lông.

Cụm hoa hình chùm. Đài 5, có lông; tràng 5 cánh, màu trắng; nhiều nhị; nhiều lá noãn đỏ, khi chín thì thành quả hạch, tập hợp thành một quả kép trông giống đĩa xôi hay mâm xôi do đó có tên cây mâm xôi.

Quả chín màu đỏ tươi. Quả có vị chua, ăn được.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mâm xôi mọc hoang ở khắp miền núi rừng miền Bắc nước ta. Nhân dân vẫn hái quả để ăn, cành lá phơi khô làm thuốc.

Thành phần hoá học

Quả chứa axit hữu cơ (chủ yếu axit xitric, malic, salysilic) muối các axit đó, đường, pectin.

Lá chứa tanin.

Công dụng và liều dùng

Vị thuốc mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân. Có thể mua tại các cửa hàng bán lá.

Ngày dùng 15-30g dưới hình thức thuốc sắc hay thuốc pha uống trước bữa ăn cơm 15 hay 20 phút để ăn cho ngon cơm, chữa chậm tiêu.

Chú thích: Têm đùm đũm còn dùng chỉ một cây khác cùng họ Hoa hồng: Rubus cochinchinesis