Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Mắc Ken (Aesculus sinensis) 1Ảnh minh hoạ Mắc Ken (Aesculus sinensis) 2Ảnh minh hoạ Mắc Ken (Aesculus sinensis) 3Ảnh minh hoạ Mắc Ken (Aesculus sinensis) 4Ảnh minh hoạ Mắc Ken (Aesculus sinensis) 5
Aesculus sinensis (ảnh cùng chi — minh hoạ tương đối) — Mark, CC BY-NC (GBIF). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Bồ Hòn Sapindaceae

Mắc Ken

Aesculus sinensis Bunge

  • bàm bàm
  • ma keyeng
  • may kho
  • marronier
Họ thực vật
Sapindaceae
Tên gọi khác
4
Bản gốc
Trang 358–359
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Cây nhỏ cao 3-5cm. Lá kép chân vịt, có cuống chung dài tới 25cm; lá chét hình mác thuôn, dài 20cm, rộng 6cm, dai, nhẵn, mép có răng cưa nhỏ. Hoa trắng, mọc thành chùy hình tháp, chiều dài vượt quá lá.

Khi cây được 4-5 tuổi thì bắt đầu ra quả. Một cây trưởng thành có thể cho mỗi năm 20-25kg quả. Mùa hoa tháng 3-4; mùa quả tháng 9-10.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mắc kẹn mọc hoang và được trồng tại một số tỉnh ở miền Bắc nước ta, nhiều nhất tại những vùng có núi đá vôi như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hòa Bình, Hà Tây, Bắc Thái, Tuyên Quang. Còn mọc ở Lào, Hoa Nam Trung Quốc. Tại Hà Nội một số phố có trồng làm cây bóng mát.

Người ta dùng quả mắc kẹn để ăn và ép dầu; vỏ cây dùng duốc cá.

Thành phần hoá học

Trong hạt mắc kẹn có 36% tinh bột, 27-30 dầu và saponin.

Dầu mắc kẹn là một thứ dầu gồm hai phần, phần đặc ở nhiệt độ 22 o C và phần lỏng. Phần đặc chiếm hơn 10% gồm tristearin chảy ở 69-70 o C, khi xà phòng hóa cho axit stearic, có độ chảy 68 o 5.

Phần lỏng có chỉ số xà phòng 202, chỉ số iốt 67,5, chỉ số axit 51. Bã sau khi ép bỏ dầu và loại saponin có thể dùng cho lên men.

Công dụng và liều dùng

Vỏ cây mắc kẹn được dùng để duốc cá do thành phần saponin trong đó. Bã hạt sau khi ép dầu cũng có thể dùng.

Hạt mắc ken đượcc dùng ép dầu, dầu này có thể dùng làm xà phòng cứng rất tốt.