Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Long Cốt (Longgu) 1Ảnh minh hoạ Long Cốt (Longgu) 2Ảnh minh hoạ Long Cốt (Longgu) 3
Longgu (ảnh minh hoạ tương đối) — Internet Archive Book Images, Free use (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.

Long Cốt

Os Draconis, (Fossilia Ossis Mastodi), Os Draconis coloratus, Os Draconis nativus

  • phấn long cốt
  • hoa long cốt
  • thổ long cốt
Họ thực vật
Chưa xác định
Tên gọi khác
3
Bản gốc
Trang 1059–1060
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Long cốt là một vị thuốc do kết quả hóa thạch (hóa đá) của xương một số động vật thời cổ đại như loại voi mamut, tê giác, lợn rừng v.v...

Cho đến nay, chúng ta vẫn phải nhập vị thuốc này của Trung Quốc. Tại đây người ta xác định long cốt có thể do nhiều động vật cổ đại khác nhau như loài tê giác Trung Quốc Rhinoceros sinensis Owen hay một loại tê giác khác Rhinoceros indet, loài hươu Cervidae indet. loài trâu Bovidae indet v.v...

Phân bố, thu hái và chế biến

A. Thu hoạch, chế biến

Long cốt có thể thu hoạch quanh năm. Khi đào được cần bọc kỹ ngay vì ra khí trời thường dễ tả rời ra.

Thành phần hoá học

Long cốt là một vị thuốc do kết quả hóa thạch (hóa đá) của xương một số động vật thời cổ đại như loại voi mamut, tê giác, lợn rừng v.v...

Cho đến nay, chúng ta vẫn phải nhập vị thuốc này của Trung Quốc. Tại đây người ta xác định long cốt có thể do nhiều động vật cổ đại khác nhau như loài tê giác Trung Quốc Rhinoceros sinensis Owen hay một loại tê giác khác Rhinoceros indet, loài hươu Cervidae indet, loài trâu Bovidae indet v.v...

Năm 1958, hệ dược của Viện y học Bắc Kinh đã nghiên cứu phân tích loại long cốt tiêu thụ trên thị trường Bắc Kinh thấy có rất nhiều Ca 2+ CO 3 2-, PO 4 3-, một lượng nhỏ Fe 3+, Fe 2+, Al 3+, Mg 2+ và SO 4 2-, Cl -.

Công dụng và liều dùng

Long cốt mới chỉ thấy dùng trong Đông y.

Theo đông y: Long cốt có vị ngọt, sáp, tính bình; có khả năng trấn kinh, an thần, sáp tinh và làm hết mồ hôi; dùng chữa trường hợp hồi hộp mất ngủ, thần trí không yên, mồ hôi trộm, xích bạch đới, tả lỵ lâu ngày, vết loét lâu ngày không lành.

Ngày dùng 20-40g, có người chỉ dùng có 2-10g một ngày dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc.

Đơn thuốc có long cốt

1. Chữa mồ hôi trộm: Ôn phấn (trong sách Thiên kim phương). Long cốt nung, mẫu lệ nung, sinh hoàng kỳ, mỗi vị 12g, bột tẻ 40g. Tất cả tán nhỏ thành bột, cho vào lụa thưa gói lại. Xoa lên da để chữa bệnh ra mồ hôi trộm, tự ra mồ hôi.

2. Bột cầm máu: Long cốt 30g, ô tặc cốt 30g. Cả hai vị tán nhỏ, khi có vết loét chảy máu rắc bột này lên (Kinh nghiệm nhân dân).

Chú thích

Cùng loại long cốt này còn có loại long sỉ - Dens Draconis (Fossilia Dentis Mastodi) cùng thành phần hóa học và cùng một công dụng, cùng nguồn gốc như long cốt. Khi dùng hoặc để sống hoặc nung lên rồi mới tán bột.

Thu hoạch, chế biến

Long cốt có thể thu hoạch quanh năm.

Khi đào được cần bọc kỹ ngay vì ra khí trời thường dễ tả rời ra.