Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Khế (Averrhoa carambola) 1Ảnh minh hoạ Khế (Averrhoa carambola) 2Ảnh minh hoạ Khế (Averrhoa carambola) 3Ảnh minh hoạ Khế (Averrhoa carambola) 4Ảnh minh hoạ Khế (Averrhoa carambola) 5
Averrhoa carambola — Vinayaraj, CC BY-SA (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Chua me đất Oxalidaceae

Khế

Averrhoa carambola L.

  • khế ta
  • khế cơm
  • khế chua
  • khế giang
  • ngũ lãng tử
  • dương đào
  • ngũ liêm tử
Họ thực vật
Oxalidaceae
Tên gọi khác
7
Bản gốc
Trang 117
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Vì quả khế có 5 cạnh nên gọi là ngũ liễm (liễm là thu lại, tụ lại).

Khế là cây gỗ cao 4-6m. Lá mọc so le, kép lông chim, dìa lẻ, dài 11-17cm, lá chét gồm 3-5 đôi, nguyên, mềm, hình trứng nhọn, những lá chét ở phía trên lớn hơn đạt tới 8,5cm chiều dài, trên 3,5cm chiều rộng. Hoa mọc thành chùm xim dài 3-7cm, ở kẽ lá, màu hồng hay tím nhạt. 5 nhị hữu thụ xen kẽ với 5 nhị thoái hóa. Lá noãn 5 họp thành 1 bầu thượng 5 ô, mỗi ô chứa 4 noãn. Quả mọng có 5 cạnh, vị chua.

Thành phần hoá học

Trong vị khế có các chất đường, vitamin B1, C2, kali oxalat axit.

Các chất khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng

Theo tính chất của Đông y: Khế vị chua ngọt, có tính sáp (sít) bình, không độc. Chủ trị phong, nhiệt (nóng sốt), sinh tân dịch, chỉ khát (chữa khát).

Trong nhân dân thường dùng lá khế giã nhỏ đắp lên những nơi bị lở sơn (sơn ăn). Có thể dùng quả giã lấy nước mà đắp lên. Còn dùng chữa mẩn ngứa, lở loét sưng đau do dị ứng.

Quả dùng lấy nước ép uống cho mát, chữa bệnh scobut.

Tại Cămpuchia, người ta dùng rễ cây khế phối hợp với vỏ cây khleng pear hay khleny kraham (Bauchinia bassaceusis Pierre) và vỏ cây Lagerstrocmin floribunda với gạo (hái ở những cây mọc hoang) tất cả sắc với nước, cô đặc còn 1/3, thêm đường cho thật ngọt mà uống để chữa ngộ độc, đặc biệt ngộ độc do mã tiền. Quả còn dùng giặt những vết gỉ sắt trên quần áo do các chất kali oxalat axit.

Kinh nghiệm dùng lá khế trong nhân dân:

Chữa sơn lở, dị ứng, lở loét: Lá khế cả cành non và hoa 100-150g, nấu sôi 15 phút với 5-6 lít nước, dùng xông và tắm. Lá đã nấu rồi dùng sát lên nơi lở loét. Thường chỉ điều trị 3-4 ngày là khỏi.