Mô tả cây
Cây nhỏ cao 3-4m, cành không có gai. Lá kép dìa lẻ, dài 30cm có 2 gai nhỏ ở phía cuống lá, 5-7 lá chét hình trứng. Hoàng liên ô rô ( hình vẽ minh họa trên ) đầu nhọn sắc, phía cuống tròn, dài 6-10cm, rộng 20-45mm, mỗi bên 3-8 răng sắc ngắn dài 3-6mm. Cụm hoa tận cùng mọc thành bông, phân cành ở phía dưới, nhiều hoa. Lá bắc hai lần ngắn hơn cuống hoa phụ. Hoa màu vàng nhạt. Lá đài 9 xếp thành 3 lớp, mỗi lớp 3. Cánh tràng 6. Nhị 6. Bầu hình nón, phình ở giữa. Quả mọng màu xanh hình cầu.
Phân bố, thu hái và chế biến
Năm 1967, cây này mới được đoàn điều tra dược liệu của tỉnh Lào Cai, do Trường đại học Dược khoa giúp về chuyên môn phát hiện lần đầu tiên ở vùng núi cao huyện Bát Xát. Nhân dân ở đây vẫn dùng như vị hoàng liên hay hoàng bá. Tên hoàng liên ô rô chúng tôi đặt cho vì lá giống cây ô rô, tác dụng như hoàng liên. Thường hái thân về, thái thành từng đoạn ngắn phơi khô, hoặc sắc uống hay tán bột uống. Không có chế biến gì khác.
Theo tài liệu cũ, chỉ nói thấy phát hiện ở miền Nam, vùng cao nguyên Langbiang (Lâm Đồng), và được xác định tên khoa học là Mahonia annamica Gagne. cùng họ.
Thành phần hoá học
Trong thân cây hoàng liên ô rô có từ 0,35-2,5% becberin.
Trong một loài hoàng liên ô rô Mahonia fortunei (Fort.) Carr. có khoảng 0,3% ancaloit, trong đó chủ yếu là becberin, panmatin, jatrorrhizin, magnoflorin, oxyacanthin, và becbamin ( Dược học tạp chí, 1952, 72, 773 ).
Công dụng và liều dùng
Hoàng liên ô rô được nhân dân dùng chữa lỵ, ăn uống không tiêu, vàng da, đau mắt. Dùng ngoài chữa mẩn ngứa mụn nhọt. Mỗi ngày dùng 4-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.




