Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Cỏ Thiên Thảo (Anisomeles indica) 1Ảnh minh hoạ Cỏ Thiên Thảo (Anisomeles indica) 2Ảnh minh hoạ Cỏ Thiên Thảo (Anisomeles indica) 3Ảnh minh hoạ Cỏ Thiên Thảo (Anisomeles indica) 4Ảnh minh hoạ Cỏ Thiên Thảo (Anisomeles indica) 5
Anisomeles indica — J.M.Garg, CC BY-SA (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae)

Cỏ Thiên Thảo

Anisomeles ovata R. Br.

  • cây cứt lợn
  • kiếm
  • san nga (Luang Prabang)
Họ thực vật
Lamiaceae
Tên gọi khác
3
Bản gốc
Trang 292–293
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Cỏ thiên thảo cao 0,75-1,25mm. Thân vuông, có lông nhất là ở ngọn. Lá mọc đối, có cuống rõ, phiến hình bầu dục, có lông ở cả 2 mặt, dài 7-15cm, rộng 3-6cm. Hoa màu hồng hay hơi tía mọc thành vòng nhiều hoa sít nhau ở kẽ lá. Hoa không cuống, đài hình chuông, 5 răng. Quả bế tư, nhẵn.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại ở khắp nơi trong nước ta. Còn mọc ở nhiều nước nhiệt dới châu Á.

Người ta thường hái bộ phận trên mặt đất, dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô. Không có chế biến gì đặc biệt.

Thành phần hoá học

Từ 1963, Hồ Đắc Ân và cộng sự ( 1963, Bull. Soc Chim. Fr. 1192 ) đã chiết được từ lá cỏ thiên thảo một chất có tính thể độ chảy 148-150 o, có công thức thô C 20 H 24 O 4, đặt tên là ovatodiolide.

Năm 1965, H. Immer và cộng sự ( 1963, Tetrahedron 21,211, 7-2131 ) đã xác định chất ovatodiolide có một nhân vòng tới 14 cacbon, 4 nối kép và là một dilacton:

Tác dụng dược lý

Năm 1963 Hồ Đắc Ân và Bửu Hội ( 1969, Therapie, XXIV, 627-631 ) đã nghiên cứu một số tác dụng dược lý của cỏ thiên thảo và đã đi tới kết luận là cho chuột uống ovatodiolide với liều cao (250mg đến 750mg/kg) có tác dụng kích thích sự bài tiết mật của các tế bào gan (choleretique), hàm lượng nước trong mật không thay đổi chứng tỏ ovatodiolide có tác dụng kích thích tiết mật thực sự.

Trong thực nghiệm ovatodiolide không có tác dụng giảm co thắt cũng không có tác dụng kháng sinh rõ rệt.

Công dụng và liều dùng

Mới được dùng trong phạm vi nhân dân: Dân tộc miền núi vùng Nha trang dùng lá và cây sắc uống chữa đau bụng.

Tại Ấn Độ và Philipin, cây Anisomeles malabatica được dùng chữa đau bụng và chữa sốt cơn. Tinh dầu cây Anisomeles malabarica được dùng xoa bóp chữa thấp khớp, đau nhức. Còn dùng làm thuốc xông cho ra mồ hôi.