Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Cỏ Bợ (Marsilea quadrfolia) 1
Marsilea quadrfolia (ảnh cùng chi — minh hoạ tương đối) — MBG, CC BY-NC-SA (GBIF). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Tần Marsileaceae, bộ Dương xi (Hydropterides)

Cỏ Bợ

Marsilea quadrfolia L.

  • tần
  • tứ điệp thảo
  • điển tự thảo
  • phá đồng tiền
  • dạ hợp thảo
  • phak_ vèn (Lào-Vientian)
Họ thực vật
Marsileaceae
Tên gọi khác
6
Bản gốc
Trang 253
Độ tin cậy OCR
88 / 100

Mô tả cây

Cỏ bợ là một loài cỏ mọc hoang ở những nơi ẩm hay ở dưới nước, có thân rễ bò mảnh, mang từng nhóm 2 lá một, cuống lá dài 5-15cm. Mỗi lá gồm 4 lá chét, xếp chéo chữ thập. Tối đến, các lá chét rủ xuống. Từ gốc mỗi nhóm lá phát xuất ra 1 chùm rễ phụ. Bào tử quả rất bé, nằm ở gốc cuống lá chia làm nhiều ô ngang trong chứa bào tử nang lớn, sẽ sinh nguyên tản cái và nhiều bào tử nang nhỏ sẽ cho nguyên tản đực. Mỗi ô đó tương đương với một ổ tử nang và có áo riêng của nó.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây cỏ bợ là một loài cỏ mọc hoang ở khắp nơi ở Việt Nam. Cây mọc cạnh ao, đầm nơi ẩm thấp, đồng ruộng (chú ý phân biệt nó với cây chua me có 3 lá).

Còn mọc hoang tại các tỉnh ở Trung Quốc, châu Âu và châu Mỹ.

Khi dùng, người ta hái toàn cây về dùng tươi, ít khi dùng khô.

Thành phần hoá học

Trong cỏ bợ có xyclaudenol C 31 H 52 O ( Reinhold và cộng sự - Progress in Phytochemistry (1) 1968, 669 ).

Công dụng và liều dùng

Còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân. Nhân dân Việt Nam có nơi hái về làm món rau ăn sống.

Có khi hái về sao vàng hoặc phơi khô, sắc đặc uống làm thuốc mát thông tiểu tiện, chữa bạch đới, khí hư, mất ngủ.

Có nơi còn giã cây tươi, ép lấy nước uống chữa rắn độc, bã đắp lên những chỗ sưng đau, sưng vú, tắc tia sữa.

Nhân dân Trung Quốc cũng dùng với những công dụng gần tương tự như ở ta.

Liều dùng hàng ngày 20-30g.

Cần chú ý nghiên cứu.