Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Chó Đẻ Răng Cưa (Phyllanthus urinaria) 1Ảnh minh hoạ Chó Đẻ Răng Cưa (Phyllanthus urinaria) 2Ảnh minh hoạ Chó Đẻ Răng Cưa (Phyllanthus urinaria) 3
Phyllanthus urinaria — Rsberzerker, CC0 / Public Domain (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Thâu dầu Euphorbiaceae

Chó Đẻ Răng Cưa

Phyllanthus urinaria L.

  • diệp hạ châu
  • diệp hòe thái
  • lão nha châu
  • prak phle (Cămpuchia)
Họ thực vật
Euphorbiaceae
Tên gọi khác
4
Bản gốc
Trang 112–113
Độ tin cậy OCR
86 / 100

Mô tả cây

Cây chó đẻ răng cưa là một loại cỏ mọc hằng năm, cao chừng 30cm, thân gần như nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành, thường có màu đỏ. Lá mọc so le, lưỡng lệ trông như lá kép, phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép nguyên nhưng như hơi có răng cưa rất nhỏ, mặt dưới màu lơ xanh, không cuống hay có cuống rất ngắn. Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ, màu đỏ nâu, đơn tính, hoa đực, hoa cái cùng gốc, ở đầu cành, cái ở dưới. Hoa không cuống, hoặc có cuống rất ngắn. Đường kính quả có thể đạt tới 2mm, treo lủng lẳng dưới lá, do đó có tên "diệp" = lá, "hạ" = dưới, "châu" = hạt ngọc, nghĩa là hạt ngọc dưới mặt lá. Hạt ba cạnh, hình trứng, màu nâu nhạt, có vân ngang.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta cũng như ở khắp các nước vùng nhiệt đới. Người ta dùng toàn cây hái về làm thuốc. Mùa hái quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa Hạ.

Thường dùng tươi có khi phơi khô.

Thành phần hoá học

Trong loài Phyllanthus discoides Muell-Arg, có Phyllanthin C 14 H 17 O 2 N, Phyllantin C 13 H 15 O 3 N ( Manske R.H.F: The Alkaloids Chemistryand Physiology XIV-1973, 428 ) và Phyllatidin C 13 H 34 O 2 N ( Horii Z. et al. Tetrahedron Letters 1972, 1877 ).

Trong loài Phyllanthus L., có Phyllathin C 24 H 34 O 6, Hypophyllanthin C 24 H 30 O 7, Niranthin C 24 H 32 O 7, Nirtetralin C 24 H 30 O 7 và Phylteralin C 24 H 34 O 6 ( Â njaneyulu. A. S. R. et al. Tetrahedron, 1973, 29, 129 ).

Tác dụng dược lý

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

Năm 1961, Phòng Đông y Viện vi trùng Việt Nam nghiên cứu tác dụng kháng sinh của chó đẻ răng cưa thấy kết quả kháng sinh như sau: Tụ cầu trùng (0,5), Typhi (0,9), Flexneri (1,1), Sonnei (0), Shiga (1), Subtilis (0,4), Coli (0) cm.

Năm 1988 ( Lancet Oct. 1. 1988 ) Blumberg và Thiogarajan công bố đã điều trị 37 bệnh nhân viêm gan siêu vi trùng B bằng chó đẻ răng cưa Phyllanthus amarus (P-niruri) đạt kết quả âm tính 22/37 sau 30 ngày.

Các tác giả còn chứng minh P. amarus có chứa chất làm ức chế lên men polymérase DNA của virus viêm gan siêu vi trùng B.

Cây P. amarus có mọc hoang dại và thường được dùng lẫn với cây P. urinaria L. đã mô tả ở trên.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân rất hay dùng cây chó đẻ răng cưa làm thuốc, giã nát với muối chữa đinh râu, mụn nhọt. Còn có tác dụng chữa bệnh gan, chữa sốt, đau mắt, rắn cắn. Ngày uống 20-40g cây tươi, sao khô sắc đặc mà uống. Dùng ngoài không có liều lượng.

Chú thích

Tên chó đẻ còn dùng để chỉ cây Phyllanthus niruri L. cùng họ. Theo các tài liệu Ấn Độ, trong cây này còn có muối kali và chất đắng gọi là phyllathine có độc đối với cá.

Cây này còn được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, hoặc làm thuốc thông sữa.