Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Cây La (Solanum verbascifolium) 1Ảnh minh hoạ Cây La (Solanum verbascifolium) 2Ảnh minh hoạ Cây La (Solanum verbascifolium) 3Ảnh minh hoạ Cây La (Solanum verbascifolium) 4Ảnh minh hoạ Cây La (Solanum verbascifolium) 5
Solanum verbascifolium (ảnh cùng chi — minh hoạ tương đối) — Raffi Kojian, CC BY-SA (Wikimedia Commons). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Cà Solanaceae

Cây La

Solanum verbascifolium L. (Solanum pubescens Roxb, Solanum erianthum Don.)

  • la rừng
  • ngoi
  • cà hôi
  • phô hức (Thổ)
  • chìa vôi
  • sang mou (Luang prabang-Lào)
Họ thực vật
Solanaceae
Tên gọi khác
6
Bản gốc
Trang 152–153
Độ tin cậy OCR
88 / 100

Mô tả cây

Cây nhỏ hoặc nhỡ cao 2,5-5m. Toàn cành, lá phủ một lớp lông dày hình sao màu vàng nhạt, hoặc vàng xám. Lá mọc cách, hình thuôn, 2 đầu nhọn, mép nguyên, cả 2 mặt đều có lông mịn, dày hơn ở mặt dưới, cuống lá dài 2-4cm.

Cụm hoa hình xim lưỡng phân hoặc xim ngù, hoa hình chén, phủ đầy lông mềm, tràng hoa màu vàng nhạt, đường kính 0,5-1,3cm, với 6 cánh hoa hình mũi mác, đầu nhọn. Quả nhỏ, hình cầu, đường kính 6mm, hạt rất nhiều có vân mạng đường kính 2mm.

Lá cây khi vò có mùi thơm phảng phất mùi hồng bì.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang tại khắp các tỉnh miền Bắc như Hà Giang (la, la rừng), Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, ngay tại Hà Nội cũng có. Ưa mọc nơi dãi nắng.

Thường người ta hái lá tươi về dùng. Ngoài ra còn dùng rễ đào quanh năm, thái mỏng phơi hay sấy khô. Có khi dùng cả cây thái mỏng phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học

Trong cây la có solanin, saponozit, một ít tinh dầu. Vỏ rễ có 0,3% solasodin.

Thành phần khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng

Trong nhân dân, lá la tươi dùng chữa lòi dom, hắc lào, sán trâu bò.

Tại các nước khác, lá la được dùng chữa tiểu tiện đục và phụ nữ khí hư.

Tại Malaixia lá tươi giã nát được dùng đắp lên hai bên thái dương chữa nhức đầu ( theo Burkill và Haniff, 1930. Gard. Bull. S.S. 6: 226 ). Trong thú y, lá thái nhỏ cho vào lỗ mũi ngựa chữa bệnh sổ mũi của ngựa.

Trong y học nhân dân Malaixia ( Medical book of Malayan medicine-Gar. Bull. Str. Sett 6, 130: 335 ) người ta dùng nước sắc của rễ chống chữa những cơn đau kịch trong người và những rối loạn sau bữa ăn.

Đơn thuốc có lá la

1. Đắp lòi dom: Lá tươi ngắt bỏ cuống và gân, giã nát sao nóng dịt vào chỗ lòi dom sau khi đã rửa sạch bằng nước ấm. Có thể để nguyên lá, úp vào dom hay nướng cháy lá, vo lại cho vào hậu môn. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ để tránh đi lại. Bệnh nhân bị lòi dom thường khỏi rất nhanh, đi lại bình thường, 2-3 năm không thấy tái phát. Có bệnh nhân dom lòi 4-5cm dùng khỏi ( Bệnh viện Hà giang - 1966 ).

2. Chữa hắc lào: Lá la tươi vò lấy nước, chấm vào vết hắc lào đã rửa sạch.