Cây thuốc Việt Nam
Ảnh minh hoạ Cẩm Xà Lặc (Canthium parvifolium) 1Ảnh minh hoạ Cẩm Xà Lặc (Canthium parvifolium) 2Ảnh minh hoạ Cẩm Xà Lặc (Canthium parvifolium) 3Ảnh minh hoạ Cẩm Xà Lặc (Canthium parvifolium) 4Ảnh minh hoạ Cẩm Xà Lặc (Canthium parvifolium) 5
Canthium parvifolium — Naturalis Biodiversity Center, CC0 / Public Domain (GBIF). Ảnh minh hoạ từ nguồn mở, không thuộc bản gốc sách.
Họ Cà phê Rubiaceae

Cẩm Xà Lặc

Canthium parvifolium Roxb.

  • mỏ quạ
  • mỏ ó
  • găng cơm
  • găng vàng
  • găng sơn
  • găng cườm
  • thiết thỉ mễ (Trung Quốc)
Họ thực vật
Rubiaceae
Tên gọi khác
7
Bản gốc
Trang 217–218
Độ tin cậy OCR
90 / 100

Mô tả cây

Cẩm xà lặc là tên vỏ cây này được xuất bán cho Trung Quốc. Tên này phổ biến ở tỉnh Quảng Bình là nơi được khai thác thu mua để xuất. Tại những nơi khác tên mỏ quạ, mỏ ó phổ biến hơn. Cũng có nơi gọi là cây găng. Tên mỏ quạ còn dùng để chỉ một cây khác (xem vị này) cần chú ý tránh nhầm.

Cẩm xà lặc là một cây nhỏ có gai dài từ 0,3-5,0cm, hai đầu quặp lại gần giống như mỏ quạ, phía gốc gai có lông. Lá hình trứng thuôn dài mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông trên đường gân, phiến lá dai, cuống rất ngắn. Hoa màu vàng họp thành chùm ở kẽ lá từng 2-8 hoa. Cánh hoa 2-3mm. Quả hạch hình cầu đường kính 8-10mm khi chín có màu vàng nhạt trong có 2 ngăn mỗi ngăn chứa 1 hạt. Mùa hoa và quả vào tháng 10-12.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang ở khắp các tỉnh miền Bắc nước ta, đôi khi được trồng làm hàng rào vì rất nhiều gai nhọn. Còn thấy mọc ở Hoa Nam, Trung Quốc, các nước nhiệt đới châu Á.

Thường người ta đào rễ bóc lấy vỏ phơi khô để xuất. Trước đây thu hái cả cành. Quả dùng để giặt quần áo thay xà phòng.

Thành phần hoá học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Sơ bộ thấy có ancaloit và saponozit.

Tác dụng và liều dùng

Chưa rõ Trung Quốc mua vỏ rễ về để làm gì, số lượng mua cũng còn ít chưa đáng chú ý.

Trong nhân dân thường dùng quả thay xà phòng để giặt quần áo, tơ, lụa không chịu được kiềm của xà phòng.

Vỏ quả rất đắng muốn ăn thì phải loại bỏ vỏ.

Vỏ thân và vỏ cành dùng chữa lỵ. Dùng dưới dạng thuốc sắc. Mỗi ngày dùng 5-10g.

Lá cây này được dùng giã nát đắp lên vết thương, nhưng ít được dùng hơn lá cây mỏ quạ thuộc họ Dâu tằm (xem vị này).

Công dụng và liều dùng

Chưa rõ Trung Quốc mua vỏ rễ về để làm gì, số lượng mua cũng còn ít chưa đáng chú ý.

Trong nhân dân thường dùng quả thay xà phòng để giặt quần áo, tơ, lụa không chịu được kiềm của xà phòng. Vỏ quả rất đắng muốn ăn thì phải loại bỏ vỏ.

Vỏ thân và vỏ cành dùng chữa lỵ. Dùng dưới dạng thuốc sắc. Mỗi ngày dùng 5-10g.

Lá cây này được dùng giã nát đắp lên vết thương, nhưng ít được dùng hơn lá cây mỏ quạ thuộc họ Dâu tằm (xem vị này).